Những đại dịch trong quá khứ và bài học của sự kiên cường: Khi bệnh tật và chết chóc chưa phải là tất cả
*Bài viết theo quan điểm của Anna North, cây viết cho The New York Times
5 năm trước, tôi quyết định viết một cuốn tiểu thuyết về những gì xảy ra sau khi thế giới chứng kiến một đại dịch kinh hoàng.
Cuốn tiểu thuyết dựa trên một vũ trụ lịch sử khác của phương Tây vào thế kỷ 19, và tôi đã nghiên cứu tất cả mọi thứ, từ chuyện chăn nuôi cho đến sinh nở. Nó không có quá nhiều nghiên cứu về vấn đề y học. Nhìn chung, tôi chỉ lấy một danh sách các dịch cúm, chọn lấy một đại dịch phù hợp nhất với kịch bản, và bắt đầu viết.
Nhưng khi hoàn tất cuốn sách, bối cảnh lịch sử ấy cũng khớp với hiện tại. Tháng 3/2020, tôi đang hoàn tất khâu biên tập và in ấn cuối cùng thì New York - thành phố nơi tôi sinh sống - bắt đầu phong tỏa. Tự nhiên tôi có một đống thời gian, hàng tấn động lực, để ngồi chiêm nghiệm sự đúng sai của một dịch bệnh khi nó tàn phá xã hội.
Dĩ nhiên, cuốn sách của tôi khá xa rời thực tế. Chẳng hạn, không có bất kỳ dịch bệnh nào chết chóc đến mức giết chết 90% dân số nước Mỹ như câu chuyện ấy cả. Nhưng có một thứ tôi đã đúng: các đại dịch đều tạo ra cú sốc cho xã hội, chuyển đổi cuộc sống của tất cả. Như đại dịch Cái chết Đen tại châu Âu trước kia đã khiến chế độ chủ nô kết thúc và đẩy tầng lớp trung lưu tại Anh phát triển hơn.
Các dịch bệnh trong lịch sử, về cơ bản, không thể giúp chúng ta biết làm thế nào để phản ứng lại Covid-19. Nhưng đổi lại, chúng đưa ra những bài học về các sai lầm không nên phạm phải. Dịch bệnh Nam Phi thế kỷ 20, thời Trung cổ ở Anh, hay ở Rome thời La Mã cổ đại, tất cả đều có những bài học dành cho xã hội, về việc làm cách nào để phục hồi lại sau những thiệt hại mà Covid đã gây ra.
Sự thích ứng
Cái chết Đen - dịch bệnh do khuẩn que Yersinia pestis đã lây lan khắp châu Á, châu Phi và châu Âu vào năm 1346. Nó được xem là "cơn khủng hoảng y tế kinh hoàng nhất lịch sử" - theo lời nhà sử học Mark Bailey. Ở Anh, dịch bệnh đã giết khoảng 50% dân số chỉ trong vòng 1 năm. Còn tại châu Âu, 30% - 60% dân số đã biến mất.
Quy mô chết chóc của dịch bệnh này chỉ cần thống kê thôi cũng đủ sốc, nhưng ảnh hưởng của nó còn nhiều hơn thế. Chẳng hạn như câu hỏi do nhà sử học Monica Green đưa ra: "Ai là người sẽ giúp thu hoạch mùa màng, khi 1/2 cư dân đã chết?"
Mỗi xã hội sẽ có cách phản ứng khác nhau. Tại một số nơi phía tây bắc châu Âu - như Anh và vùng đất nay thuộc Hà Lan, khi một lượng lớn người lao động thiệt mạng đồng nghĩa với việc người sống sót có thể dễ dàng kiếm việc làm và sở hữu đất đai. "Tài sản đầu người tăng lên, trong khi sự chênh lệch về thu nhập giảm xuống," - Bailey giải thích. Về mặt kinh tế thì ít nhất "những người bình thường được hưởng lợi".
Nhưng tại đông Âu, câu chuyện diễn ra ngược lại. Những nơi ấy, các lãnh chúa củng cố quyền lực bằng cách tái áp đặt chế độ chủ nô, buộc nông dân (dù đã chết rất nhiều vì dịch bệnh) phải làm việc với các điều kiện có lợi cho chủ. Ở đó, sự bất bình đẳng lại gia tăng vì dịch bệnh.
Tranh minh họa về việc người dân tháo chạy khỏi dịch bệnh (được mô tả bằng những bộ xương) vào năm 1630
Có khá nhiều cách giải thích cho sự phân chia này, nhưng một trong số đó liên quan đến việc dịch bệnh có xu hướng gia tăng các xu hướng hiện hữu. Nhưng ngay cả tại bắc Âu, xu hướng này cũng không bền vững sau khi chính phủ Anh áp đặt trần lương để giữ cho mức lương không tăng quá cao vào giữa thế kỷ 14. Điều này tạo ra sự bất ổn diện rộng - điển hình là cuộc nổi dậy vào năm 1381 nhằm phản đối sự quản lý yếu kém của chính phủ với nền kinh tế.
Nhìn chung, nếu sự kiên cường trong một đại dịch nằm ở khả năng ứng phó, thì ở nền kinh tế xã hội hậu đại dịch lại nằm ở khả năng thích nghi. "Thích nghi với thực tại mới, cơ hội mới, mô hình mới là chìa khóa," - Bailey cho hay.
Sự bất bình đẳng
Xu hướng thu hẹp bình đẳng kinh tế tại Anh, xét trên nhiều góc độ, là khá bất thường. Trong lịch sử, đa số các đại dịch trên thế giới đã làm gia tăng khoảng cách thu nhập của cộng đồng.
Như năm 1901, khi dịch hạch xuất hiện tại Nam Phi, hàng ngàn người da đen bị buộc phải rời khỏi Cape Town vì giả thuyết "để họ tự do di chuyển sẽ khiến dịch bệnh lây lan" - theo lời Alexandre White, giáo sư xã hội học. Nó tạo ra nền tảng khởi đầu cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thời kỳ "apartheid" xuất hiện.
Các nhà nghiên cứu dịch bệnh tại phòng thí nghiệm San Francisco
Mỹ cũng có một lịch sử đầy rẫy những chính sách mang tính phân biệt thời kỳ dịch bệnh, đơn cử là làn sóng tấn công người gốc Á trong dịch bệnh đầu thế kỷ 19 và 20 tại Hawaii và San Francisco. Ngoài ra còn là làn sóng nhắm đến cộng đồng LGBT khi phản ứng với căn bệnh thế kỷ H.I.V. Những chính sách khi đó không chỉ làm tăng sự bất bình đẳng, mà đồng thời còn triệt tiêu nỗ lực chống lại dịch bệnh. Như với H.I.V, nó đã được tạo điều kiện để lây lan nhanh chóng trong cộng đồng.
Và giờ là Covid-19. Nước Mỹ phải đối mặt với một dịch bệnh quá "phân biệt" khi nó giết chết nhiều người Mỹ da màu hơn, bởi họ chiếm phần đông trong lực lượng lao động thiết yếu và ít có cơ hội tiếp cận chăm sóc y tế. Khi chiến dịch vaccine mở ra, họ cần phải nhìn vào những bài học từ quá khứ, với việc phân biệt và bất bình đẳng kinh tế đã khiến đại dịch trở nên nghiêm trọng khi nó mới xảy ra.
"Nếu ảnh hưởng của nạn phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bài ngoại không diễn ra một cách quá hệ thống, sẽ có ít ca nhiễm và tử vong vì Covid-19 hơn," - White nhận định. "Sự cố chấp luôn mang đến kết quả tệ với y tế cộng đồng."
Những đổi mới mang tính cách mạng
Dù các đại dịch thường làm sống dậy những tiêu chuẩn cũ kèm theo sự phân biệt, đào thải, nó cũng tạo cơ hội để những thứ mới mẻ xuất hiện - đặc biệt là trong văn hóa, nghệ thuật và giải trí.
La Mã cổ đại từng bị tra tấn bởi các dịch bệnh, thường xảy ra với chu kỳ 15 - 20 năm vào các thế kỷ thứ 4, 3 và 2 TCN - theo tác giả Caroline Wazer. Thời kỳ đó, cách chữa trị đa phần dựa vào tôn giáo, khi người La Mã thử nghiệm nhiều nghi lễ mới, nhiều vị thần mới nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Một trong số đó là nghi thức đưa các diễn viên lên làm lễ ở trên sân khấu, và "đó là cách người La Mã khởi đầu cho các rạp hát ngày nay" - Wazer nhận định, dù còn gây tranh cãi.
Ở Anh vào thế kỷ 14, sự thay đổi văn hóa hậu dịch bệnh cũng xảy ra. Trong đại dịch Cái chết Đen, người Anh sợ hãi khi phải chết mà không được an táng theo nghi lễ tôn giáo và phải xuống địa ngục. Vì thế, họ bắt đầu hình thành các giáo hội nhỏ, kêu gọi quyên góp tiền đẻ các giáo dân có được một hậu sự đủ đầy. Dần dần, các giáo hội nhỏ xây dựng được một xã hội riêng. Và rồi khi phong trào Cải cách tôn giáo xảy ra vào thế kỷ 16, các giáo hội bị giải thể, và những nơi phục vụ họ chuyển sang một loại hình giải trí mới - chính là các hộp đêm ngày nay.
Sẽ là khá phiến diện nếu gọi những đổi mới về văn hóa này là "điểm sáng" của đại dịch. Xét cho cùng, văn hóa nghệ thuật vẫn có thể xuất hiện mà chẳng cần quá nhiều người chết như vậy. Chỉ là, khi dịch bệnh tạo nên một cơn khủng hoảng tàn khốc, những điều mới mẻ xuất hiện theo những cách không ngờ.
"Dịch bệnh là thảm họa, nhưng cũng là cơ hội," - ông Bailey cho biết. Và trong những năm tiếp theo, khi thế giới đối mặt với câu chuyện phục hồi hậu Covid, từ những bài học trong quá khứ chúng ta có thể tạo ra một xã hội mới công bằng hơn, ít phán xét hơn, và thậm chí là vui vẻ hơn quá khứ đã bị buộc phải bỏ lại phía sau.
Nguồn: NY Times






No comments